Sự khác biệt văn hóa Đông – Tây về trầm cảm

0

Các rối loạn cảm xúc và rối loạn lo âu ở Trung Quốc ít phổ biến hơn ở Hoa Kỳ. Tại Mỹ, tỷ lệ hiện mắc của chứng rối loạn lo âu là gần 30% nhưng ở Trung Quốc chỉ khoảng 5%. Tương tự vậy, khoảng 20% người Mỹ sẽ trải qua một loại rối loạn trầm cảm tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời của họ, nhưng đối với dân Trung Quốc, chỉ có 2%.

Điều đó không nói rằng Trung Quốc là một đất nước đặc biệt hạnh phúc. Nghiên cứu so sánh giữa các nền văn hóa về phúc lợi cá nhân cho thấy người Mỹ là một trong những công dân hạnh phúc nhất thế giới, cùng với các quốc gia Phương Tây khác, như Canada và Úc. Tuy nhiên, xếp hạng hạnh phúc của Trung Quốc và các nước Đông Á khác,  như Nhật Bản và Hàn Quốc, ngay giữa mức “không phải hạnh phúc lắm” và “cực kỳ không hạnh phúc”.

Đây là câu hỏi hóc búa đã gây bối rối cho các nhà tâm lý học nghiên cứu so sánh văn hoá trong nhiều thập kỷ. Các quốc gia phương Tây báo cáo mức phúc lợi cá nhân cao nhưng đồng thời có tỷ lệ trầm cảm và lo âu cao. Ngược lại, xã hội phương Đông dường như ít hạnh phúc hơn nhưng cũng ít rối loạn cảm xúc hơn.

Trong nhiều năm, các nhà tâm lý học tin rằng nghịch lý này xảy ra bởi lo lắng và trầm cảm ở Châu Á  được báo cáo ở mức thấp. Theo quan điểm này, họ cho rằng do sự kỳ thị với tâm bệnh nên người Châu Á chuyển đổi các rối loạn tâm lý thành các triệu chứng thể chất, mệt mỏi với các cơn đau đầu, đau dạ dày, và mất ngủ.

Tuy nhiên, nhà tâm lý học người Úc June De Vaus và các đồng nghiệp của cô cho rằng không có bằng chứng nào ủng hộ giả thuyết này. Hơn nữa, tỷ lệ bệnh tâm thần phân liệt ở phương Đông và phương Tây tương tự nhau, mặc dù châu Á tồn tại sự kỳ thị cao với các bệnh tâm lý. Vì vậy, các nhà nghiên cứu này đề xuất rằng sự khác biệt văn hoá về rối loạn cảm xúc là bởi cách người phương Đông và người phương Tây suy nghĩ và đáp ứng với cảm xúc của họ.

Trong vài thập kỷ qua, các nhà tâm lý học về văn hoá đã ghi nhận những khác biệt căn bản về nhân sinh quan giữa các nền văn hoá phương Đông và phương Tây. Người phương Tây tiếp cận thế giới từ góc độ phân tích. Họ có khuynh hướng phân chia thế giới thành các thể đối lập – chủ thể so với khách thể, tốt đối với xấu, hạnh phúc so với nỗi buồn. Về tinh thần, người phương Tây có khuynh hướng tách biệt con người, sự vật, sự việc từ bối cảnh lớn mà chúng xuất hiện. Họ có khuynh hướng cho rằng bản thân như một cá thể độc lập, nhìn nhận chính mình là một tác nhân tự do trong tương tác với người khác.

Ngược lại, người dân ở các nền văn hoá phương Đông có khuynh hướng xem xét thế giới một cách toàn diện. Họ không tư duy phân lập. Trên thực tế, họ mong đợi những giá trị đối lập cùng tồn tại, được biểu trưng bởi âm và dương – một điểm đen trong vùng sáng, và một điểm sáng trong bóng tối. Hơn nữa, khi tương tácvới một người hay một sự vật, họ cũng xem xét đến ảnh hưởng của bối cảnh rộng hơn. Người phương Đông nhìn nhận bản thân như một thể liên kết tương hỗ với người khác, xác định bản thân trong tương quan của các mối quan hệ và nghĩa vụ.

Hai thế giới quan khác biệt này đã tồn tại hàng ngàn năm, chúng ăn sâu vào các nền văn hoá Đông phương và Tây phương. Thế giới quan riêng biệt của chúng ta được hình thành khi trưởng thành trong một nền văn hóa đặc thù, những mô hình tư tưởng đó thấm vào tâm lý của chúng ta. Khi vô thức trải qua một ngày hỗn độn, ta suy tư theo các khuôn mẫu mà nền văn hóa tạo nên. Nhưng nếu tỉnh táo hơn, chúng ta chắc chắn có thể đón nhận một thế giới quan thay thế. Ví dụ, một người phương Đông tư duy “toàn diện” sẽ  theo hướng phân tích vấn đề khi họ làm toán hoặc logic; và những người phương Tây ưa phân tích sẽ suy nghĩ một cách toàn diện khi họ làm công việc sáng tạo.

Nếu tình trạng rối loạn cảm xúc ở châu Á thấp hơn nhiều, De Vaus và các đồng nghiệp cho rằng, chúng ta có thể học được một số phương thức đối phó trầm cảm hiệu quả qua việc nghiên cứu cách người Á Châu đối phó với những cảm xúc tiêu cực. Trong nghiên cứu của họ, họ tìm ra ba cách suy nghĩ về những cảm xúc khác nhau giữa các nền văn hoá  Đông phương và Tây phương. Những cách suy nghĩ này dẫn đến những phản ứng đặc biệt làm giảm xác suất thất bại trong cuộc sống – nguyên nhân gây nên trầm cảm hoặc lo lắng.

    • Cảm xúc xảy ra đồng thời. Người phương Tây có khuynh hướng xem hạnh phúc và nỗi buồn đối lập nhau, điều này tồn tại sẽ loại trừ điều kia. Trong khi theo đuổi hạnh phúc không mệt mỏi, họ né tránh nỗi buồn bằng mọi giá. Họ tin rằng những điều này sẽ làm giảm những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống của họ. Tuy nhiên, người phương Đông cởi mở hơn với những trải nghiệm cảm xúc mâu thuẫn cùng lúc. Luôn có chút buồn trong niềm vui, và hạnh phúc có thể tìm thấy trong bế tắc khổ đau. Do đó, những trải nghiệm tiêu cực có ít tính đe dọa hơn vì chúng không loại trừ được cảm giác hạnh phúc.
    • Cảm xúc có thể thay đổi. Người phương Tây có khuynh hướng suy nghĩ rằng cảm xúc phát sinh từ một cái tôi ổn định. Nếu tôi nghĩ về bản thân mình là một người hạnh phúc, thì tôi cần phải giảm bớt bất cứ trải nghiệm tiêu cực bất thường nào – bởi đó không phải là một phần của tôi. Tương tự như vậy, những người bị trầm cảm thường nghĩ rằng đó luôn là cách họ cảm nhận về cuộc sống. Trái lại, người phương Đông, xem cảm xúc – cũng như nội tâm bên trong – là điều chắc chắn thay đổi được. Do đó, những trải nghiệm tiêu cực có ít tính đe dọa hơn vì chúng chỉ là tạm thời.
  • Cảm xúc đến từ bối cảnh. Không giống người phương Tây, những người xem những cảm xúc phát sinh từ bên trong họ, người phương Đông nhận thấy những cảm xúc xuất phát từ hoàn cảnh họ đang ở. Điều này có nghĩa là tâm trạng có thể thay đổi bằng cách thay đổi bối cảnh, đặc biệt bằng cách điều chỉnh các suy nghĩ và hành vi theo kỳ vọng của cộng đồng họ tham gia. Bằng cách tự tách bản thân ra khỏi cảm xúc, người phương Đông sẽ điều chỉnh chúng tốt hơn. Do đó, những trải nghiệm tiêu cực ít đe doạ hơn bởi vì có thể xử lý được chúng.

Sau đó, De Vaus và các đồng nghiệp xem xét làm thế nào những khác biệt văn hoá trong cách tư duy về cảm xúc ảnh hưởng đến hai hành vi phổ biến mà mọi người thường làm khi họ đang cảm thấy buồn – bài xích và nghiền ngẫm. Người phương Tây thường cố gắng đương đầu với những tâm trạng tiêu cực bằng cách đẩy chúng ra khỏi tâm trí. Nhưng việc đè nén những cảm xúc xấu theo cách này thường gây ra hậu quả, làm tăng khả năng chìm vào trầm cảm.

Người phương Đông cũng cố ngăn chặn cảm xúc tiêu cực, nhưng theo một cách khác. Mặc dù họ cảm thấy tệ, nhưng họ không cố gắng thể hiện điều đó bởi vì họ không muốn ảnh hưởng đến người khác. Kết quả của việc này là khi người Châu Á cảm thấy buồn, họ vẫn duy trì các mối quan hệ xã hội, điều này thường cải thiện hơn tâm trạng của họ.

Khi buồn, chúng ta có khuynh hướng tập trung suy nghĩ vào cảm xúc bản thân. Người phương Tây có xu hướng suy nghĩ về những cảm xúc tiêu cực rằng: “Có gì sai với tôi?” Ngược lại, người phương Đông có nhiều khả năng nghĩ rằng: “Có gì sai với tình hình?” Vì vậy, trong khi nghiền ngẫm dẫn người phương Tây vào một chu kỳ luẩn quẩn của những suy nghĩ tiêu cực về bản thân họ, quá trình tương tự dẫn người châu Á tìm kiếm các giải pháp cho các vấn đề của họ.

Khi chúng ta xem xét sự khác biệt giữa các nền văn hoá, điều quan trọng không phải là nghĩ đến một thế giới quan cao cấp hơn. Một mặt, thế giới quan phương Tây – phân tích và độc lập – dẫn đến mức chủ quan cao cho mọi người, nhưng lại làm tăng nguy cơ lo âu và trầm cảm. Mặt khác, thế giới quan phương Đông – toàn diện và phụ thuộc lẫn nhau – tạo lớp phòng vệ chống rối loạn cảm xúc, nhưng nó cũng làm giảm tổng thể mức độ hạnh phúc.

Bạn không phải là người nuôi nhốt văn hoá của bạn. Bằng việc học cách nhìn nhận thế giới, bạn có thể lựa chọn nhân sinh quan theo cách có lợi cho bạn. Khi bạn thấy buồn, hãy thử nhìn toàn diện vấn đề. Nhắc nhở bạn rằng đi qua thời điểm xấu cuối cùng mọi chuyện tốt. Và hãy nhớ rằng tâm trạng của bạn đang phản ánh điều gì đó về tình hình hiện tại của bạn. Bắt đầu tập trung vào cách thay đổi tình hình, và bạn sẽ cảm thấy tốt hơn về chính mình.

Bản quyền nguyên tác: David Ludden Ph.D.
Biên dịch: Tri Tâm thư quán

Facebook Comments

“Một mình ” để giải phóng chính mình

0
frau genießt eine tasse kaffee mit geschlossenen augen

Khi nói đến “mối quan hệ thân mật”, chúng ta thường nghĩ về sự kết nối sâu sắc giữa hai người. Sự thân mật khiến bạn bóc trần, chân thực và dễ bị tổn thương. Đó là khi bạn tháo xuống lớp mặt nạ và pháo đài đã xây dựng để bảo vệ trái tim, lòng tự trọng và cảm xúc của mình. Đó là khi bạn để cho ai khác nhìn thấy toàn diện 360 độ con người thật của mình, nơi bạn thuộc về, chỗ bạn yếu nhất. Đương nhiên thật khó để người khác thấy toàn bộ con người thật của ta, với tất cả những điểm yếu. Đó là rủi ro cho một mối quan hệ. Bởi vậy nhiều người giữ chặt tấm khiên phòng thủ, để không ai khác có thể ảnh hưởng tới cảm xúc, suy nghĩ, thái độ, và hành vi của họ.

Tuy nhiên, có một loại tâm tình khác có thể hơi khó với một số người – tâm sự với chính mình. Đây là khoảng thời gian để suy nghĩ về bản thân, mình là ai, mình đang ở đâu, mình sẽ đi về đâu. Đó là khi bạn hạ xuống lớp phòng vệ và cho phép ngưng dối lừa chính mình. Đó là khi thừa nhận nỗi sợ hãi về giới hạn của bản thân, biết rẳng có những niềm tin đã khiến bạn ngờ vực con người mỉnh, có những trở ngại tưởng tượng ngăn bạn cố gắng đạt đến các mục tiêu giá trị.

Tự phản chiếu bản thân giúp bạn kết nối với nhân cách bạn thường thể hiện trong một mối quan hệ. Đã bao giờ bạn tự đặt câu hỏi “Mình có muốn ở bên người như mình không?” Nếu câu trả lời là không, có lẽ bạn nên như vậy. Nhận thức những khía cạnh bản thân mình trong mối quan hệ với người khác – hay với chính mình – là bước đầu tiên để dần loại bỏ những điều không tốt. Sự thật hiển nhiên rằng “bước đầu tiên để giải quyết vấn đề là thừa nhận sự tồn tại của nó”.

Tạo khoảng trống lành mạnh riêng tư cho bạn không gian để tự đánh giá trung thực bản thân, cũng như tự chấp nhận chính những gì mình có – kể cả những gì bạn từng nuối tiếc trong quá khứ.

Đó là tiến lên phía trước, không phải mắc kẹt trong quá khứ

Tự phản chiếu bản thân và dành thời gian lành mạnh riêng tư không phải nghiền ngẫm về những trải nghiệm tiêu cực trong quá khứ. Đó là việc chấp nhận những điều đúng đắn, từ chối những sai trái, và xác định những gì bạn muốn mang theo bên mình trên hành trình cuộc đời. Như hành lý mỗi chúng ta mang theo – từ mối quan hệ qua mối quan hệ khác, từ nơi này sang nơi khác, hay trải qua từng khoảnh khắc. Chúng ta là người duy nhất có quyền chấp nhận hoặc từ bỏ những điều đó. Người ta nói rằng hạnh phúc là được lựa chọn. Nếu để những sai lầm và thất bại trong quá khứ dằn vặt bạn hiện tại thì đó cũng là lựa chọn do bạn cố tình tạo nên.

Hãy suy nghĩ về nó, với thời gian riêng tư một mình, tìm ra những gì bạn sẵn sàng mang theo và nơi bạn thực sự muốn đến.

“Thời gian một mình” là tự nuông chiều bản thân? Không hẳn vậy.

Một thói quen giúp bạn có khoảng thời gian một mình lành mạnh là đi bộ mỗi ngày. Dù bạn đi được 10.000 bước hay chỉ vài trăm bước. Khi cơ thể chuyển động, bạn đang thúc đẩy quá trình sáng tạo và phòng chống các nguy cơ trầm cảm.

Tạo khác biệt vào đầu hoặc cuối ngày làm việc. Đi làm sớm hoặc ở lại muộn một chút. Dùng khoảng không này cho sự tĩnh lặng, phản chiếu lại bản thân, xác định lại mục tiêu thực sự xứng đáng mà bạn theo đuổi. Dù bạn đang ở trên xe, ở sảnh công ty, hay ngồi trước bàn làm việc của mình, hãy giữ tâm hồn mình lại và suy nghĩ về nơi bạn định đi tới. Nghĩ đến bước tốt nhất cần làm tiếp để đưa bạn đến đó là gì.

Viết nhật trình, ghi lại những gì xuất hiện trong tâm trí sẽ tạo cơ hội để lật lên những đá tảng trong cuộc sống hàng ngày để xem những gì ẩn sâu bên dưới hay những cơ cấu ngầm chạy trong. Hoặc bạn có thể nói thật to điều vừa xuất hiện trong đầu bạn. Khi bạn viết ra hay nói lên, những gì suy nghĩ trước đó, một từ khóa, một ý tưởng được gọi tên, kết tinh của một kế hoạch ấp ủ đã lâu, bạn bắt đầu kích hoạt sức mạnh bên trong để vượt qua quá khứ hay hướng về tương lai với hành trang là ý niệm bạn đang có.

Ghi lại thế giới quan, những ước mơ, và những điều cảm kích, cũng có tác dụng tương tự việc viết nhật trình, tạo nên không gian để cảm nhận và suy nghĩ về hạt giống tiềm ẩn chưa thành hình. Bằng cách tạo cho mình cơ hội để xích lại gần bản ngã của mình hơn, bạn cũng sẽ sâu sắc hơn trong mối quan hệ với người khác. Nếu bạn không thể nhìn vào mắt mình và tự thấy mình là ai, bạn có thể gặp khó khăn trong việc chấp nhận lỗi lầm hoặc khuyết điểm của mọi người.

Với công nghệ ngày càng phát triển, trước những nhiệm vụ không ngừng mỗi ngày, dành thời gian riêng tư cho bản thân càng trở nên quan trọng để hiểu được vị trí của chúng ta trên thế giới.

Bản quyền nguyên tác: Suzanne Degges-White, Ph.D.
Biên dịch: Tri Tâm thư quán

Facebook Comments

NĂM BÀI HỌC LỚN TỪ GANDHI

0

Người Ấn Độ tự hào về mọi thứ họ có – ẩm thực, trang phục, văn hóa sắc màu, và đặc biệt là người đàn ông đã rung chuyển thế giới – Mahatma Gandhi. Một người mà vô số những người thành công trên thế giới thần tượng, trong đó có Steve Jobs, Nelson Mandela, và Barack Obama.

Chúng ta học được rất nhiều từ ông những bài học về giá trị cuộc sống, lý tưởng và chiến lược. Ứng dụng chúng một cách hợp lý vào cuộc sống giúp ta lèo lái tốt hơn con thuyền sự nghiệp của mình.

1. Kiên trì chinh phục mục tiêu

Gandhi là một người đàn ông cả trong lời nói và hành động, không bao giờ chệch khỏi mục tiêu đã thiết lập trong tâm trí. Ông bị đánh đập và bắt giam trong suốt thời gian đầu công cuộc kháng chiến chống người Anh. Ông đã nói “Toàn lực tấn công là toàn diện chiến thắng”. Ông tuyên thệ lời hứa tự do và chiến đấu với ý chí bất khuất. Không gì có thể phá vỡ điều đó.
Giống như những gì ông đã làm, hãy bỏ qua cảm xúc phẫn nộ hoặc quên đi những ngày không hiệu quả như mong muốn. Bởi chúng không ích gì cho sự phát triển của cá nhân bạn, ngoại trừ viện nhiều lý do hơn để đẩy bạn ra khỏi kế hoạch ban đầu. Đối mặt với những kẻ luôn muốn kéo bạn xuống, ít nhất bạn sẽ có sức mạnh để tự trụ vững chính bản thân mình trong suốt thời gian khốc liệt đó.

2. Học hỏi từ công việc

Một nhà báo đã từng hỏi Gandhi lý do tại sao ông không bao giờ có dành thời gian nghỉ ngơi. Ông trả lời với vẻ tự hào, rằng công việc của ông không cần một kỳ nghỉ. Cống hiến cho sứ mệnh là điều mà một người làm theo giờ hành chính sẽ rùng mình khi nghĩ đến.
Chúng ta không cổ súy việc hi sinh toàn bộ cuộc sống cho công việc. Tuy nhiên, nghĩ về công việc như một điều gì đó mệt mỏi và khó chịu, là dấu hiệu rõ ràng chứng tỏ bạn đang muốn chạy khỏi nơi mà bạn cho rằng mình thuộc về. Đôi khi cần thay đổi nhịp độ công việc, nhưng nếu bạn muốn “thoát khỏi chốn này” thì đó là một tín hiệu cảnh báo. Hãy chọn một công việc khiến bạn yêu thích và muốn làm, mà không phải một gánh nặng ràng buộc.

3. Bản thân không phải là tất cả

Gandhi không làm điều gì với mong đợi được đáp trả. Có lần trên một chuyến tàu, một chiếc giày của ông rơi ra – mà không thể lấy lại. Ông đã ném nốt bên giày còn lại ra để người nào đó nhặt được sẽ có đủ một đôi.
Bạn cần nhìn nhận tầm quan trọng của người khác trong thành công của bản thân. Có thể không hẳn là những người trong cùng văn phòng, mà cả những người ngoài công việc. Có thể là những người hỗ trợ bạn ở nhà, hoặc người lái xe đưa bạn đến công sở mỗi ngày. Nhận ra rằng tất cả những gì bạn đạt được ngày hôm nay đều có sự góp công từ mọi yếu tố trong đời sống của bạn.

Luôn nghĩ đến xung quanh và đừng ngại ngần sáng tạo. Sự nỗ lực và lòng chân thành sẽ được đền đáp xứng đáng.

4. Là người đầu tiên tin vào kế hoạch của bạn

“Tất cả chúng ta đều có những khả năng tuyệt vời và những trách nhiệm to lớn. Tất cả chúng ta đóng một vai trò rất quan trọng trong dòng lịch sử. Lý do chúng ta không bao giờ nhận ra là bởi không bao giờ tin rằng chúng ta có thể tác động đến toàn thế giới. “

Chủ nghĩa thực dân đã đi vào nhận thức của người Ấn Độ. Thật không tưởng khi một người đàn ông tin vào chính bản thân mình, đơn độc trong ước mơ thống nhất đất nước. Dân chủ là tài sản quan trọng của Ấn Độ, để đẩy người Anh ra khỏi lãnh thổ – nhưng không chỉ những người khác nghĩ rằng điều đó bất khả thi, mà chính người đàn ông đó cũng từng hoài nghi như vậy.

Tuy nhiên, để thay đổi hiện tại, bạn cần tin rằng bạn có năng lực để làm được điều đó – như Gandhi đã từng tin tưởng.

Thoát khỏi vòng an toàn của bản thân và hiện thực hóa kế hoạch của bạn. Thậm chí, nếu từ đầu bạn không đủ niềm tin vào kế hoạch của mình, việc phát triển lòng tin tạo nền tảng để duy trì động lực. Tin vào kế hoạch của chính mình đưa bạn vào đúng con đường cần đi. Ngay cả khi bạn không đạt được những gì mong muốn, ít nhất bạn sẽ hài lòng vì có cơ hội rèn luyện đúng hướng để hoàn thiện bản thân.

Tin tưởng vào những gì bạn làm. Làm điều đó với một trái tim trong sạch, duy trì sức mạnh của nhân cách. Không bao giờ làm bất cứ điều gì chỉ vì hư danh hay để lấy lòng người khác.

5. Học cách khiêm tốn

Người đàn ông giải phóng Ấn Độ mỗi ngày đều mặc quần áo giản dị. Ông không thích chụp ảnh và thậm chí sau khi nổi tiếng ông đã dành cả đời sống trong giản dị. Ông không thích ánh hào quang danh vọng. Ông cho rằng đó là trách nhiệm của ông đối với sự nghiệp giải phóng nhân dân đất nước.

Sự giản dị là một phần trong cuộc sống của bạn. Và cuộc sống, không dễ dàng với bất cứ ai.

Khao khát lời ca tụng và coi đó như mục tiêu cạnh tranh với đồng nghiệp sẽ khiến bạn không nhận được kết quả như mong muốn. Thay vào đó, hãy giúp đỡ đồng nghiệp và lớp hậu bối, điều đó sẽ giúp bạn rất nhiều để hoàn thiện các mục tiêu của mình.

 

Nguồn: HeadHonchos
Biên dịch: Tri Tâm thư quán

Facebook Comments

Hôn nhân có làm bạn thay đổi?

Người ta thường nói rằng các cặp vợ chồng sẽ trở nên giống nhau qua nhiều năm chung sống. Nhưng hôn nhân có thực sự thay đổi tính cách của bạn? Nghiên cứu mới của nhà tâm lý học Justin Lavner thuộc trường Đại học Georgia và các đồng nghiệp của ông cho thấy nhân cách của con người có thể thay đổi, theo một số hướng dự đoán trước, trong vòng một năm rưỡi sau khi kết hôn.

Các nhà tâm lý chia thành hai nhóm lý giải về vấn đề liệu nhân cách có được xác định trước bởi gen của mỗi người hay được định hình qua thời thơ ấu. Nhiều người cho rằng nhân cách là sự kết hợp của cả hai yếu tố đó. Ở tuổi trưởng thành tính cách thường ổn định và ít thay đổi. Tuy nhiên một số nghiên cứu chỉ ra rằng những sự kiện quan trọng trong đời sống có thể đẩy nhân cách phát triển theo những hướng cụ thể. Ví dụ, một người cực kỳ hướng nội với mong muốn trở thành giảng viên có thể trở nên hướng ngoại hơn trong lớp học.

Hôn nhân là một trong những sự kiện quan trọng nhất đời người. Các cặp vợ chồng tìm cách hòa hợp với nhau mỗi ngày, cùng bên nhau lâu dài. Nên không ngạc nhiên khi họ cố gắng thử thay đổi tính cách để thích nghi với người bạn đời của họ. Đây là giả thuyết mà Lavner và các đồng nghiệp đã thử nghiệm.

Đối với nghiên cứu này, 169 cặp vợ chồng dị tính đã tham gia trả lời câu hỏi tại ba thời điểm sau khi kết hôn – 6 tháng, 12 tháng và 18 tháng. Bằng cách này, các nhà nghiên cứu có thể phát hiện những xu hướng thay đổi nhân cách. Tại mỗi thời điểm, các cặp vợ chồng được tách riêng và trả lời hai vấn đề, một về đánh giá sự hài lòng trong hôn nhân và một về đo lường tính cách.

Lý thuyết nhân cách được chấp nhận rộng rãi nhất hiện nay là Mô hình năm yếu tố (Big Five). Mô hình này đề xuất năm yếu tố cơ bản của tính cách, viết tắt là OCEAN:

     1. Sự cởi mở/Sẵn sàng trải nghiệm (Openness to experience): Bạn tiếp nhận những trải nghiệm mới như thế nào? Nếu bạn được đánh giá tính cởi mở ở mức cao, bạn thích thử nghiệm những điều mới lạ. Nếu điểm này của bạn thấp, bạn sẽ cảm thấy thoải mái với những gì quen thuộc.
     2. Sự tận tâm (Conscientiousness): Mức độ đáng tin cậy và nề nếp của bạn ra sao? Nếu bạn có điểm tận tâm cao, bạn thích đúng giờ, luôn giữ cho không gian sống và làm việc gọn gàng ngăn nắp. Nếu bạn thiếu tận tâm, bạn không quan tâm lắm tới thời hạn và cảm thấy thoải mái trong môi trường lộn xộn của mình.
     3. Tính hướng ngoại (Extraversion): Bạn có hay đi ra ngoài không? Nếu bạn là người hướng ngoại cao, bạn thích các hoạt động xã hội với người khác. Nếu điểm này của bạn thấp (tức là tính hướng nội cao), bạn thích dành thời gian với chính mình.
     4. Sự dễ chịu (Agreeableness): Bạn có dễ hợp tác với người khác? Nếu điểm này của bạn cao, thường bạn sẽ dễ đồng thuận và vui vẻ với những gì người khác làm. Nếu bạn thường không hài lòng, bạn muốn mọi thứ phải theo ý bạn, bất kể người khác muốn gì.
     5. Sự ổn định tâm lý (Neuroticism): Mức ổn định cảm xúc của bạn như thế nào? Nếu bạn ở trình trạng bất ổn cao, tâm lý của bạn luôn biến động và rất dễ nóng nảy. Nếu điểm này của bạn thấp, tâm trạng của bạn tương đối ổn định và cân bằng.

Khi các nhà nghiên cứu phân tích dữ liệu sau 18 tháng kết hôn, họ đã tìm ra những xu hướng thay đổi nhân cách sau đây trong một số cặp vợ chồng:

     1. Sự cởi mở: Cả hai vợ chồng đều cho thấy tính cởi mở của họ tăng lên. Có lẽ thay đổi này phản ánh sự chấp nhận của họ với những thói quen mới trong hôn nhân.
     2. Sự tận tâm: Tính tận tâm của người chồng tăng lên đáng kể, trong khi người vợ vẫn giữ nguyên. Các nhà nghiên cứu chú ý rằng phụ nữ vốn có xu hướng tận tâm cao hơn nam giới. Trong trường hợp này, gia tăng tận tâm ở người chồng phản ánh họ đã hiểu được tầm quan trọng của sự tin cậy và trách nhiệm trong hôn nhân.
     3. Tính hướng ngoại: Cả hai vợ chồng đều trở nên hướng nội hơn (giảm bớt tính hướng ngoại) trong khoảng 18 tháng đầu kết hôn. Các nghiên cứu khác chỉ ra rằng các cặp vợ chồng có xu hướng hạn chế các quan hệ xã hội hơn so với thời điểm họ độc thân. Sự giảm thiểu này có thể phản ánh xu hướng đó.
     4. Sự dễ chịu: Cả hai vợ chồng đều trở nên ít thỏa hiệp hơn trong quá trình nghiên cứu. Xu hướng giảm này thể hiện rõ rệt hơn ở những người vợ. Về bản chất, phụ nữ vốn dễ chịu hơn nam giới. Dữ liệu này cho thấy những bà vợ đang học cách tự khẳng định mình hơn trong những năm đầu của cuộc hôn nhân.
     5. Sự ổn định tâm lý: Cảm xúc của những ông chồng trở nên ổn định hơn. Tuy nhiên các bà vợ thể hiện sự gia tăng rõ rệt mức ổn định cảm xúc. Nói chung, phụ nữ vốn bất ổn tâm lý cao hơn nam giới. Dễ suy đoán rằng tính cam kết của hôn nhân đã ảnh hưởng tích cực đến cân bằng cảm xúc của người vợ.

Không có gì ngạc nhiên khi mức độ hài lòng về hôn nhân đã đi xuống ở cả hai vợ chồng trong quá trình nghiên cứu. Sau 18 tháng, dư âm của tuần trăng mật đã thực sự trôi qua. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng từ những đặc điểm tích cách cố hữu của người chồng hay người vợ sẽ dự đoán được mức độ suy giảm hài lòng trong hôn nhân của họ.

  • Những người chồng có tính cởi mở cao (khi bắt đầu hôn nhân) thường giữ được sự thỏa mãn trong hôn nhân lâu dài hơn. Trong khi đó, những người vốn có điểm cởi mở thấp cho thấy sự sụt giảm lớn hạnh phúc hôn nhân. Có lẽ những người chồng sẵn sàng trải nghiệm sẽ tìm ra cách để giữ mối quan hệ trở nên thú vị.
  • Những bà vợ có tâm lý ổn định cũng ít biến đổi mức độ hài lòng về hôn nhân, trong khi những người vốn tâm lý bất ổn ít hạnh phúc hơn sau 18 tháng kết hôn. Điều này nghĩa là, những người tâm lý ổn định giữ cân bằng cuộc sống tốt hơn. Những bà vợ dễ biến động nội tâm thường thấy ngày cưới cực kỳ tuyệt vời và sau đó trở lại bình thường, rồi đến trạng thái không mấy vui vẻ.
  • Tương tự vậy, ông chồng có vợ cân bằng tâm lý tốt duy trì hạnh phúc sau một năm rưỡi kết hôn. Sự ổn định cảm xúc ở người vợ giúp tạo nền tảng vững chắc hơn cho họ trong hôn nhân.

Với những dữ liệu tương ứng như vậy, cũng không thể kết luận rằng kết hôn chính là nguyên nhân gây ra những thay đổi về tính cách. Hầu hết các cặp vợ chồng trong nghiên cứ đều ở tuổi 20, thời điểm xảy ra những thay đổi lớn về cuộc sống- giai đoạn trưởng thành, bắt đầu sự nghiệp, bắt đầu có con. Tất cả những điều này đều có thể ảnh hưởng tới tính cách của bạn. Vì thế các nhà nghiên cứu cũng kiểm tra xem những yếu tố sau đây có thể dự đoán sự thay đổi về nhân cách mà họ quan sát được hay không:

  • Tuổi tác: những người kết hôn muộn cho thấy sự thay đổi về nhân cách tương tự với người kết hôn sớm. Điều này chứng tỏ sự trưởng thành không phải yếu tố duy nhất giải thích cho thay đổi nhân cách.
  • Sống thử trước hôn nhân: Cặp đôi sống thử trước hôn nhân cho thấy sự thay đổi tương tự về nhân cách chỉ xảy ra khi họ bắt đầu kết hôn – trừ một ngoại lệ. Phụ nữ sống thử trước hôn nhân biểu hiện sự ổn định tâm lý cao vào thời điểm bắt đầu kết hôn, và trong suốt 18 tháng sau đó. Có thể giải thích điều này theo 2 cách: 1) Giai đoạn sống chung giúp những phụ nữ này ổn định hơn về cảm xúc, vậy nên họ chuẩn bị tâm lý tốt cho đời sống hôn nhân. 2) Những người đàn ông chia tay bạn gái của họ sau thời gian sống thử nếu họ nhận thấy sự bất ổn cảm xúc ở người phụ nữ đó, họ kết hôn với người có cảm xúc ổn định hơn.
  • Làm cha mẹ: Một số cặp vợ chồng trong nghiên cứu đã có con trong khoảng thời gian quan sát. Tuy nhiên, họ không thể hiện sự thay đổi khác biệt đáng kể về nhân cách so với những cặp đôi chưa có con. Việc nuôi dạy con chắc chắn là một sự kiện dễ gây căng thẳng và thay đổi nếp sống hàng ngày. Nhưng nhân cách của họ không bị tác động như khi họ kết hôn.

Vì những yếu tố trên không tác động đến kết quả dữ liệu, các nhà nghiên cứu vẫn giữ quan điểm rằng hôn nhân là nguyên nhân tạo nên sự thay đổi nhân cách. Những thay đổi này có thể liên quan đến việc đáp ứng những yêu cầu lặp đi lặp lại của một mối quan hệ có tính cam kết. Cho dù ngọn lửa đam mê không còn như ngày đầu, họ vẫn có thể điều chỉnh phản ứng để tương thích với đối phương, cùng thương lượng những điều cần có giúp duy trì hôn nhân bền vững.

Nếu bạn nghĩ đến việc kết hôn, bạn có thể hi vọng người bạn đời của mình thay đổi, nhưng việc này cũng có thể không theo hướng bạn mong muốn. Dự đoán tốt nhất là hôn nhân sẽ thúc đẩy nhân cách hai người phát triển. Những cặp đôi vui vẻ và cảm xúc ổn định sẽ tạo dựng đời sống hôn nhân luôn thỏa mãn và hạnh phúc. Nhưng nếu ai đó mang theo gánh nặng cảm xúc vào mối quan hệ, hành trình sẽ trở nên nặng nề hơn.

————
Bản quyền nguyên tác: Ph.D David Ludden
Biên dịch: Tri Tâm thư quán

Facebook Comments

Người hướng nội có thể thay đổi?

Bạn có cảm thấy bị mắc kẹt trong nhân cách bạn sinh ra, tiếc rằng bản thân không phải người thích đi ra ngoài, không phải người lạc quan hay chỉ đơn giản là thân thiện hơn với người khác? Có phải bạn từng lo sợ rằng, khi bạn già đi, bạn sẽ không đạt tới những mục tiêu như bạn muốn ở trên? Nhiều người tin vào câu nói cổ xưa của nhà tâm lý học nổi tiếng William Jame, khẳng định rằng tính cách cố định và không thể thay đổi vào tuổi 30. Hoặc bạn có thể theo quan điểm của Freud rằng tính cách chỉ có thể thay đổi trong khoảng 5 tuổi (hoặc 12 tuổi). Dù theo cách nào, bạn có lẽ sẽ chán nản và thất vọng vì không bao giờ trở thành loại hình như bạn mong muốn.

Tuy nhiên, từ một góc độ khác, động lực để thay đổi nhân cách có thể là cảm hứng cần thiết để bạn thúc đẩy phát triển bản thân. Bước khó khăn nhất trong quá trình thay đổi này là xây dựng nhận định rằng sự thay đổi khiến bạn hạnh phúc hơn. Sau khi đưa ra quyết định, bạn bắt tay vào việc “tái cấu trúc” bản thân để đạt được những đặc điểm mà bạn mong muốn. Điều duy nhất khiến bạn thất bại là suy nghĩ rằng nhân cách của bất cứ ai cũng không thể thay đổi

Quay về tập phim hồi tháng 4 năm 2016 liên quan đến Donald Trump trong khoảng thời gian ông tranh cử tổng thống Mỹ. Sau chiến thắng tại tiểu bang New York, cố vấn của Trump tuyên bố rằng ông sẽ dần ổn định hơn trong “nhân cách Tổng thống”. Ông ấy sẽ trở nên tử tế hơn, lịch thiệp hơn và cẩn trọng hơn trong suy nghĩ, nhận xét hay thái độ cư xử. Thông báo này đã dẫn đến sự hoài nghi đáng kể trong số các nhà phân tích chính trị, những người tự cho rằng nhân cách là không thể thay đổi. Bề ngoài, Trump có vẻ nhẹ nhàng và biết suy nghĩ hơn, họ lập luận, nhưng phong cách hung hăng và hiếu chiến thì không thể thay đổi. Trên thực tế, quyết định thay đổi của Trump chỉ kéo dài 1-2 ngày. Chẳng bao lâu, ông tuyên bố rằng nếu dự tính xây dựng một hình ảnh Tổng thống phù hợp với kỳ vọng của mọi người hơn thì ông sẽ không bao giờ có được vị trí như hiện tại. Việc Trump không sẵn sàng thay đổi hoặc không thể thay đổi chỉ củng cố hơn niềm tin của mọi người về việc không ai có thể thực sự thay đổi, ngay cả khi họ tin vào điều đó. Như trường hợp của Trump thay đổi trong thời gian ngắn , đó là bởi lợi thế có sẵn nên ông ta làm được vậy.

Củng cố quan điểm về nhân cách cố định là một điểm chung không chỉ của James, Freud và Trump, mà còn là một trong những lý thuyết phổ biến nhất trong lĩnh vực nghiên cứu nhân cách hiện nay. Theo mô hình 5 yếu tố tính cách (OCEAN), từ khái niệm ban đầu, bạn được xếp vào mức cao hoặc thấp của năm yếu tố lớn, mỗi yếu tố lớn lại được chia thành 6 yếu tố nhỏ. Mỗi phần trong nền tảng tâm lý của bạn cấu thành dựa trên 30 yếu tố này. Bạn là một đứa trẻ nhút nhát? Bạn gần như mặc định bản thân trở thành người hướng nội. Bạn không bao giờ sắp xếp giường chiếu dù bị mẹ nhắc nhở liên tục? Sau đó bạn bị đánh giá điểm “tận tâm” (conscientiousness) khá thấp và sẽ luốn sống trong cẩu thả.

May mắn thay, quan điểm rằng tính cách bất biến đang thay đổi. Nghiên cứu về sự lão hóa dựa trên mô hình năm yếu tố (Terracciano và cộng sự, 2005) rằng một số đặc điểm tính cách và các khía cạnh của những đặc tính này có thể thay đổi theo thời gian. Một phần lý do của sự thay đổi do cuộc sống diễn ra trong quá trình lớn lên. Số lượng những người được đánh giá cao trên các đặc điểm ít mong muốn hoặc cho rằng đặc tính đó không lành mạnh giảm dần trên mức đo lường dân số các năm sau đó. Những người này có nguy cơ tử vong cao bởi những thói quen độc hại (một phần xuất phát từ đánh giá thấp của xã hội với tính cách của họ – nd). Một số người thuộc diện “ít tận tâm” (conscientiousness) chết bởi các thói quen sinh hoạt không lành mạnh. Những người có chỉ số tâm lý bất ổn cao (neuroticism) dễ nghiện rượu và chất kích thích dẫn đến tử vong. Điều này gia tăng tỷ lệ những người tận tâm, dễ chịu và cảm xúc ổn định ở tuổi trưởng thành.

Lý thuyết cho rằng sự thay đổi nhân cách là có thể đạt được, đã được thử nghiệm trong thí nghiệm thực hiện bởi nhà tâm lý học Urbana-Champaign Nathan Hudson và Christopher Fraley (2015) thuộc Đại học Illinois. Sinh viên trong khóa học tâm lý nhân cách đã tham gia 16 tuần can thiệp sâu. Tại đó, họ đã được huấn luyện thực hiện những thay đổi họ mong muốn trong tính cách dựa trên năm yếu tố cơ bản. Khi bắt đầu, những sinh viên tham gia đều chắc chắn rằng họ muốn nâng cao hơn các đặc tính mà họ bị đánh giá thấp ban đầu. Trên thực tế, những người muốn thay đổi về tính hướng ngoại đã thực sự trở nên hướng ngoại hơn. Những yếu tố khác cũng có biểu hiện thay đổi (ngoại trừ yêu tố “sẵn sàng trải nghiệm” (openness to experience)).

Đánh giá chung, những người tham gia thí nghiệm có sự thay đổi ở các yếu tố về sự ổn định cảm xúc, tính dễ chịu và sự tận tâm, nhưng sự chuyển đổi từ hướng nội sang hướng ngoại vẫn thể hiện mạnh mẽ nhất. Những người muốn trở nên hướng ngoại đã học cách để hành động theo cách hướng ngoại hơn. Đổi lại, những hành vi hướng ngoại của họ dường như làm thay đổi cách đánh giá của họ chính bản thân mình.

Chìa khóa để thay đổi, như Hudson và Fraley ghi nhận, là đưa ra một kế hoạch cụ thể để thay đổi hành vi cụ thể. Đừng chỉ nói rằng “tôi sẽ cởi mở hơn và hòa đồng hơn”. Thay vào đó, hãy chọn một ngày nhất định, bắt đầu tương tác với một người khác mà bạn không biết rõ. Gọi cho người bạn vừa gặp và sắp xếp đi đâu đó với nhau. Sự can thiệp thay đổi sẽ không có hiệu quả nếu bạn chỉ đại khái. Hiệu quả chỉ đến khi thực sự có hành động thực tế.

Một khi bạn bắt đầu thay đổi những hành vi đó, bạn sẽ bắt đầu thay đổi cách bạn nhìn nhận chính mình. Sự thay đổi trong đánh giá bản thân có thể thay đổi nhân cách. Bạn chuyển từ câu chuyện “Tôi luôn là người hướng nội” sang “Tôi thường có những hành vi hướng nội”. Nhìn nhận bản thân như là người kiểm soát tính cách của bạn hơn là bị điều khiển bởi nó.

Tựu trung lại, việc thay đổi đòi phải bước ra khỏi vùng an toàn của nhân dạng mà ta từng nghĩ ta thuộc về. Nếu bạn muốn thay đổi nhân cách của mình, hãy chịu trách nhiệm về quá trình đó bằng cách tập trung vào những hành vi có thể thay đổi cách định nghĩa về bản thân bạn. Cuối cùng giúp bạn hạnh phúc hơn với những gì bạn có.

Bản quyền nguyên tác: Ph.D Susan Krauss Whitbourne
Biên dịch: Tri Tâm thư quán

==================================================

Lời người dịch: Người dịch bài này không cổ súy hướng ngoại hay kêu gọi người hướng nội phải trở nên hướng ngoại. Hướng ngoại hay hướng nội về bản chất khác nhau ở cách thức bạn lấy năng lượng từ môi trường bên ngoài hay bên trong. Những thay đổi mang tính hướng ngoại này thể hiện nhiều qua hành vi giao tiếp xã hội, nhằm giúp các bạn hòa nhập tốt hơn và tìm được nhiều cơ hội hơn trong cuộc sống. Điều đó không có nghĩa là bạn phải thay đổi bản chất cốt lõi của tính hướng nội/hướng ngoại bằng việc nạp năng lượng từ môi trường nào. Ở bài viết này, khuyến khích những người muốn thay đổi bản thân rằng việc rèn luyện có thể giúp bạn thay đổi được. Động lực từ bên trong bạn coi việc thay đổi là hạnh phúc mà không phải chạy theo bất cứ giá trị nào khiến bạn mệt mỏi. Nếu bạn là một người hướng nội hoàn toàn và không thích đi ra ngoài, bạn không cần thiết phải thay đổi chỉ vì xã hội hiện đại đề cao sự hướng ngoại. Chọn cho mình một công việc và lối sống phù hợp với nhu cầu của bản thân, để sống cuộc đời khỏe mạnh và hạnh phúc như bạn muốn.

Facebook Comments

Tại sao mọi người tin vào thuyết âm mưu?

Có vẻ như mỗi gia đình đều có một ông chú – liên tục kể chuyện về các thuyết về âm mưu trong bữa ăn tối ngày lễ.
“Cả nhà biết không? Thật ra vụ tấn công 11/9 là do chính phủ điều động”
“Còn nữa, mấy video lên Mặt trăng đều được quay ở Hollywood thôi”
“Oswald đã không hành động một mình trong vụ ám sát Kennedy”
“Này cháu, đừng nói về nóng lên toàn cầu nữa. Giáng sinh này vẫn rét như hồi chú 5 tuổi. Cháu mong chú tin cả thế giới đang ấm lên hả??”

Chúng ta nên để ông chú sang bên và thử tìm hiểu xem mấy thuyết âm mưu của chú đến từ đâu. Tại sao một số người lại dễ tin vào thuyết âm mưu? Đây chính là câu hỏi đặt ra bởi nhà tâm lý học người Anh Karen Douglas và các đồng nghiệp của cô trong một bài báo gần đây trên tạp chí Current Directions in Psychological Science.

Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng lý do để tin vào thuyết âm mưu có thể được chia thành ba loại:
• Mong muốn hiểu biết và cảm giác chắc chắn
• Mong muốn kiểm soát và cảm giác an toàn
• Mong muốn duy trì hình ảnh bản thân tích cực
Chúng ta hãy nhìn lại từng động cơ.

Mong muốn hiểu biết và cảm giác chắc chắn.

Tìm kiếm giải thích cho các sự kiện là ham muốn tự nhiên của con người. Chúng ta luôn thắc mắc vì sao một sự việc lại xảy ra như thế? Tại sao trời phải mưa vào đúng ngày tôi muốn ra ngoài? Tại sao cô ấy lại hờ hững với tôi ? Tại sao bạn không hiểu những gì tôi đang cố gắng nói với bạn?
Và không chỉ đặt câu hỏi, chúng ta cũng nhanh chóng tìm ra câu trả lời. Không nhất thiết là câu trả lời đúng, mà thông thường nó sẽ giúp ta an tâm hoặc thấy phù hợp với quan điểm của mình. Trời đổ mưa vì tôi luôn là một kẻ không may. Cô ấy lạnh lùng với tôi vì cô ấy không thể chịu nổi khi mọi việc không theo cách mà cô muốn. Bạn không hiểu những gì tôi nói vì bạn không lắng nghe.
Trong mỗi chúng ta đều có những niềm tin sai, nghĩa là có những điều ta tin là đúng nhưng trên thực tế thì không. Ví dụ, nếu bạn tin rằng Sydney là thủ đô của Úc, bạn là nạn nhân của một niềm tin sai. Nhưng một khi thực tế cho bạn thấy Canberra là thủ đô của Úc, bạn sẽ dễ dàng thay đổi ý kiến của mình. Rốt cuộc, bạn chỉ đơn giản là hiểu lầm và bạn cũng không có nhiều cảm xúc với nó lắm .
Lý thuyết âm mưu cũng là niềm tin sai, theo định nghĩa. Nhưng những người tin vào nó đặc biệt chú trọng việc duy trì niềm tin này. Thứ nhất, họ nỗ lực tìm hiểu về thuyết âm mưu tiềm ẩn sau sự kiện, bằng cách đọc sách, tìm kiếm trên các website hoặc xem các chương trình cổ súy cho niềm tin đó. Cảm giác không chắc chắn là một trạng thái rất khó chịu. Các thuyết âm mưu tạo nên ảo tưởng “hiểu biết và chắc chắn” để xoa dịu trạng thái này.

Mong muốn kiểm soát và cảm giác an toàn.

Mọi người cần cảm giác họ đang kiểm soát cuộc sống của họ. Ví dụ, nhiều người cảm thấy an toàn hơn khi họ tự lái xe chứ không phải là hành khách. Tất nhiên, ngay cả những người lái xe giỏi nhất cũng có thể bị tai nạn vì những lý do vượt ra ngoài sự kiểm soát của họ.
Tương tự như vậy, các lý thuyết âm mưu có thể cung cấp cho các tín đồ của họ cảm giác kiểm soát và an toàn. Điều này đặc biệt đúng khi một phần cuộc sống bị đe dọa. Ví dụ, nếu nhiệt độ toàn cầu đang tăng lên thảm khốc do hoạt động của con người, thì tôi sẽ phải thay đổi lối sống thoải mái của tôi. Thật là đau đớn. Nhưng nếu các chuyên gia và chính trị gia đảm bảo với tôi rằng sự nóng lên toàn cầu chỉ là một trò lừa bịp, thì tôi có thể duy trì được cách sống hiện tại của mình. Kiểu lý luận dựa trên động cơ này là một thành phần quan trọng để duy trì niềm tin về thuyết âm mưu.

Mong muốn duy trì một hình ảnh tích cực.

Nghiên cứu cho thấy những người cảm thấy bị “đứng bên lề” xã hội có xu hướng tin hơn vào các thuyết âm mưu. Tất cả chúng ta đều muốn duy trì hình ảnh tích cực về bản thân, thường xuất phát từ những vai trò của chúng ta trong cuộc sống – công việc, các mối quan hệ với gia đình và bạn bè. Khi tạo ra sự khác biệt tích cực trong cuộc sống của những người khác – như cha mẹ, người yêu/bạn đời, bạn bè, giáo viên hay người hướng dẫn- chúng ta thấy cuộc sống của mình đáng giá, và thấy bản thân tốt hơn.
Nếu công việc của bạn nhàm chám và ít tiếp xúc xã hội, hay bạn liên tục gặp những con người ưa tin đồn, bạn có xu hướng tin hơn vào những thuyết âm mưu. Bạn dành nhiều thời gian hơn trên internet để củng cố niềm tin của mình, trò chuyện với những người có chung niềm tin ấy. Thuyết âm mưu cho bạn cảm giác sở hữu một kiến thức đặc biệt. Hầu hết mọi người tin vào sự nóng lên toàn cầu và sự an toàn của vac-xin sẽ không chạy theo thuyết âm mưu vì họ hiểu khoa học. Họ tin tưởng các chuyên gia. Bạn bắt đầu đưa ra các bằng chứng chống lại sự nóng lên toàn cầu, dù rất khó để đưa ra một lý lẽ hoàn toàn hợp lý. Từ cách mà bạn nói, có vẻ bạn am hiểu về chủ đề đó, bạn có một mớ giả thuyết quá phức tạp khiến người nghe bắt đầu thấy phân vân về điều họ tin tưởng.

Tựu trung lại, chúng ta hiểu về những gì thúc đẩy con người tin vào các thuyết âm mưu. Họ làm như vậy vì ba nhu cầu cơ bản: Tìm hiểu thế giới xung quanh; tạo cảm giác an toàn và kiểm soát; duy trì hình ảnh tích cực về bản thân. Nhưng niềm tin vào thuyết âm mưu có thực sự giúp mọi người thỏa mãn được những nhu cầu này?

Các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng khi sinh viên đại học tiếp xúc với các thuyết âm mưu, cảm giác mất an toàn của họ ngày càng tăng. Điều này cho thấy thuyết âm mưu không hẳn giúp chúng ta cảm thấy an toàn. Con người hay đa nghi và thiên hướng tiêu cực như một bản năng tự vệ để duy tri sinh tồn. Douglas và các đồng nghiệp cũng chỉ ra rằng, hầu hết sinh viên không tin ngay vào các loại thuyết âm mưu. Nếu cần thiết, họ sẽ lập luận, kiểm tra lại chính những nguồn tin đó.

Bất kể bạn tiếp xúc với dạng thông tin như thế nào, hãy luôn giữ đầu óc tỉnh táo trước những biện luận vu vơ, những nguồn tin không xác thực. Bạn có thể phản đối thuyết âm mưu kiểu này. Nhưng hầu hết những cuộc tranh luận như vậy không đi đến đâu. Người lan truyền tin không quan tâm lắm đến việc tranh cãi với bạn. Họ đang duy trì cảm giác an toàn và tự hào về bản thân mà thôi.

 

Bản quyền nguyên tác: Ph.D David Ludden
Biên dịch: Tri Tâm thư quán

Facebook Comments

Năm cách tử tế để xoa dịu một người khó tính

0

Bạn đã bao giờ thực sự thất vọng hoặc bực mình với hành vi của một ai đó, thậm chí không ưa hoặc tránh xa họ, rồi sau đó hiểu ra rằng có một lý do chính đáng khiến họ có một ngày bất thường?

Chính bạn có từng thô lỗ hay gắt gỏng với người khác?
Có thể có điều gì đó thực sự căng thẳng đang chờ đợi họ ở nhà.
Có thể họ đã trằn trọc suy tư cả đêm.
Có thể họ đã gặp chín điều sai lầm hôm nay và bạn xuất hiện ở điều thứ mười.
Có thể họ đã mất một thứ gì đó hoặc ai đó quan trọng với họ, đang phải quay cuồng với bão tố trong lòng khi vẫn cố gắng tiếp tục sống.
Có thể họ đang vô cùng lo lắng về điều gì đó.
Có một số người cố tình gây tổn thương cho người khác, hoặc có từng có tiền sử về rối loạn hành vi, thô lỗ hoặc dễ mất kiểm soát, bất kể hoàn cảnh. Ở đây, chúng ta không nói về những người như vậy.
Bài viết này đề cập đến tình huống “khó ở”, bạn sẽ gặp ở bất kỳ đâu, ở bất kỳ ai, và ngay cả chính bản thân bạn. Chúng ta khi bình ổn và tỉnh táo đều dễ dàng cư xử lịch sự và tử tế. Nhưng vì một lý do nào đó khiến cho thái độ bỗng trở nên bất mãn và thiếu lịch sự.

Đừng để sự tiêu cực hay giận dữ của họ tác động đến bạn

Nghĩ đến lần gần nhất bạn gặp một đối tác hoặc khách hàng khó chiều. Đó là lần đầu tiên bạn và họ làm việc với nhau nhưng họ tỏ ra không dễ chịu cho lắm. Họ có vẻ không ưa bạn dù trước đó cả hai chưa từng gặp nhau.
Bất cứ nghề nghiệp nào đều có áp lực riêng và không dễ dàng cho bạn khi đồng thời chịu  cường độ lớn từ công việc và phải tiếc xúc với đủ cung bậc cảm xúc của mọi người. Đương nhiên, nó khiến bạn khó chịu, nói chuyện cộc lốc và chỉ tập trung vào xử lý công việc. Tập trung để đẩy họ ra khỏi không gian của bạn càng nhanh càng tốt.
Đối chọi lại bằng căng thẳng và khó ưa làm cho mọi thứ trở nên xấu hơn. Điều đó có thể khiến họ cư xử tệ hơn hoặc đòi hỏi nhiều và bất hợp lý hơn. Tất cả chúng ta đều sẽ bất mãn.
Vậy nên điều cần làm là hãy cư xử tử tế với họ.

Hãy xin lỗi, nếu điều đó hợp lý và cần thiết

Nếu bạn có một phần lỗi gây nên thái độ thất vọng của họ, hãy xin lỗi từ đầu. Thậm chí ngay cả khi họ khó chịu và cư xử thô lỗ. Một lời xin lỗi chân thành có thể xoa dịu rất nhiều tình huống. Thừa nhận quan điểm của một ai đó, không đánh giá suy diễn, (cả khi bạn không đồng tính với nó), là bạn đã giải quyết được phần lớn vấn đề với họ và hạn chế xung hấn bên trong mình.

Nói chuyện như thể bạn đang gặp một người dễ chịu, thân thiện.

Nếu ngay từ đầu họ đã tỏ ra lạnh nhạt, không thân thiện hoặc thiếu tôn trọng khi gặp bạn, hãy tỏ ra bình thường, ngồi xuống và làm việc với họ như tất cả mọi người. Nếu bạn đáp trả bằng chính sự thô lỗ đó, cố gắng đẩy họ đi càng sớm càng tốt với một thái độ không mấy thân thiện, thì sự bất mãn càng tăng lên. Công việc có thể sẽ theo hướng tệ hại không đáng có, gây ấn tượng xấu lẫn nhau, và chắc hẳn nhiều điều tốt đẹp sẽ mất đi. Chỉ cần bạn giữ được thái độ thân thiện và lịch sự, tình hình sẽ cải thiện hơn rất nhiều.

Nhìn nhận sự việc ở hoàn cảnh của họ và chấp nhận sự khác biệt

Thật dễ dàng phán xét một người nếu họ khác bạn.
Có thể họ không nhận được sự giáo dục về cách thức cư xử như bạn từng được dạy để phù hợp với tiêu chuẩn của bạn hay của người khác.
Có thể do nền tảng khác biệt nên họ đã kết luận tiêu cực về bạn chỉ bởi cách ăn mặc hay nói chuyện.
Có lẽ vì thói quen khô khan hay thái độ vốn thô cứng khiến họ thường bị từ chối hoặc nhận lại phản ứng khiếm nhã. Lâu dần điều đó gây tâm lý phòng vệ và bất mãn trong họ.
Thường thì những người thiếu thốn tình cảm vượt qua thử thách cuộc sống khó khăn hơn những người khác. Chúng ta có thể đã được ban những đặc ân mà không phải ai cũng có. Điều gì đó có thể là đơn giản bình thường với ta nhưng lại là không tưởng với người khác.

Đừng đánh giá một người là khó gần chỉ dựa trên ấn tượng ban đầu của bạn.

Hầu hết những người khó gần, ít dễ thương trở nên dễ chịu hơn nhiều nếu bạn dành chút thời gian để lắng nghe họ. Thể hiện một cách tự nhiên rằng bạn đang lắng nghe, hiểu hoàn cảnh và nhu cầu của họ, thay vì phản ứng thất vọng hay từ chối.

Tuy nhiên, có một số người thực sự “khó gần” từ trong bản chất. Những đối tượng này bạn nên tránh xa hơn là tốt bụng nghĩ rằng sự tử tế sẽ cảm hóa được họ. Trong mọi trường hợp, giữ bình tĩnh và thái độ hợp lý luôn tốt hơn việc cao giọng với đối phương, khiến họ có thêm lý do để tiếp tục khiếm nhã hoặc tức giận với bạn.

Lần tiếp theo, nếu bị ai đó xúc phạm, đừng để nó ảnh hưởng đến bạn. Hãy thử con đường của sự tử tế. Hạn chế xung hấn không chỉ vì công việc hay vì người khác, điều đó tốt cho chính bản thân bạn. Giữ gìn sự tử tế giúp bạn rèn luyện đầu óc tỉnh táo, kiểm soát tốt cảm xúc, và không bị hoàn cảnh dẫn dắt tâm trí.

 

Bản quyền nguyên tác: Dr. Susan Biali
Biên dịch: Tri Tâm thư quán

Facebook Comments

BẠN CÓ NGHIỆN NGƯỜI YÊU CŨ?

0

Nhiều tháng sau khi bạn trai của Katie chia tay với cô, cô vẫn không thể xóa anh ta khỏi tâm trí:

         “Anh ấy là điều đầu tiên tôi nghĩ đến mỗi khi thức dậy. Nghĩ đến việc chúng tôi không còn ở bên nhau. Tôi lại khóc. Tôi xem Instagram của anh ấy, thấy anh ấy vẫn sống tốt như không có gì xảy ra. Thật không công bằng!! Bạn tôi nói rằng tôi cần phải gạt bỏ tất cả đi, nhưng làm sao có thể? Anh ấy luôn ở trong đầu tôi. Tôi muốn trở lại bình thường. Nhưng không có anh ấy, tôi không thể.”

Bốn tháng sau khi chia tay, Katie không có dấu hiệu phục hồi sau đổ vỡ. Buồn thay, tình trạng này của cô ấy không phải hiếm. Nhiều người trong chúng ta phải đấu chọi với chính mình để gạt bỏ người yêu cũ khi trái tim còn đau đớn. Chúng ta dành hàng tháng trời để sống trong ám ảnh với người đã làm tan vỡ trái tim ta. Không thể nào vượt qua mối quan hệ đã mất, ta khao khát người ấy điên cuồng. Chúng ta lật lại toàn bộ những hình ảnh, lời nói đã từng có với người ấy để sống lại một cảm giác xưa cũ, cảm giác về lần cuối cùng vui vẻ. Không có người ấy, không có gì là quan trọng. Không có gì là giá trị.

Nó giống như chúng ta đang nghiện người yêu cũ. Đó là bởi bản năng bên trong ta.

Các nghiên cứu về não cho thấy, việc chấm dứt tình yêu lãng mạn kích hoạt cùng một cơ chế trong não giống với não của những con nghiện đang cai thuốc. Nói cách khác, tình yêu là chất gây nghiện. Sự vắng mặt của tình yêu giáng một đòn mạnh mẽ vào não, như thể chúng ta bất ngờ bị tước đoạt một “chất” mà ta đã phụ thuộc. Chúng ta đang trải qua một quá trình cai nghiện.

Não của Katie đã phản ứng giống như bộ não của một người nghiện. Kể từ khi Katie không còn người yêu bên cạnh (heroin của cô ấy), điều duy nhất cô có thể làm là lục lại mọi ký ức liên quan đến anh ta – hình ảnh, video, những tin nhắn (những chất giảm đau gây nghiện nhẹ). Mỗi lần gợi nhớ như vậy có thể xoa dịu cô trong thời gian ngắn nhưng đồng thời cũng khiến những làn sóng thèm muốn tiếp theo càng mạnh mẽ hơn.

Trái tim tan vỡ là một loại thuốc rất khó cai.

Làm sao để thoát khỏi cơn nghiện thất tình

Vượt qua nỗi đau thất tình có nhiều điểm giống với việc cai các loại nghiện khác như ma túy, thuốc lá, rượu hoặc cờ bạc. Bạn phải nghiêm túc khống chế bản thân, không tìm đến những người hay vật dụng hay hoạt động khiến bạn tái nghiện. Bởi cơ thể bạn sẽ muốn kháng cự lại áp chế này mỗi khi sự thèm khát trỗi dậy dữ dội .

Đóng băng toàn bộ liên hệ với người cũ

Để quên đi người yêu cũ, bạn phải xóa bỏ tất cả các mối liên hệ với họ, ít nhất là tạm thời, hoặc trong phạm vi bạn có thể nếu hoàn cảnh không cho phép ngắt kết nối hoàn toàn. Điều đó có nghĩa là xóa họ khỏi danh bạ, chặn họ trên mọi mạng xã hội. Hình ảnh và video của bạn nên chuyển sang kênh nào họ ít truy cập nhất.

Sử dụng chánh niệm để vượt qua cơn thèm muốn

Cơn thèm khát đến như ngọn sóng dữ dội lay động mạnh tâm hồn. Bạn cần vượt qua cảm giác muốn tiếp cận với người yêu cũ, hãy tập trung vào hơi thở của bạn. Đừng để tâm trí chạy lung tung, hãy thiền và đưa cơ thể trở về trạng thái bình thường. Làn sóng khao khát thường lên đỉnh điểm trong vài phút, hãy nhẹ nhàng thả trôi nó đến khi nó tự suy giảm.

Phân tán sự chú ý

Giữ cho bản thân luôn bận rộn. Mục đích là lấp đầy trí óc của bạn với bất cứ điều gì có thể, để không còn lỗ hổng nào cho người yêu cũ chen vào suy nghĩ của bạn. Chúng ta không thể nói với tâm trí mình rằng đừng nghĩ về điều gì đó – vì nói thế nào đi nữa thì cũng không hiệu quả. Chúng ta cần suy nghĩ về những điều khác. Giữ bản thân luôn bận rộn và tham gia vào bất cứ cái gì có thể là cách tốt nhất để thực hiện.

Mỗi lần thả lỏng bản thân khiến cơn nghiện càng nặng hơn

Hãy nhận thức rằng bạn cần phải nâng cao kỷ luật với bản thân hết sức có thể. Bởi một lần trật khỏi nguyên tắc, ví dụ như xem lại hỉnh ảnh về kỳ nghỉ với người yêu cũ chẳng hạn, sẽ đưa bạn trở về tình trạng ban đầu với mức độ thèm muốn cao hơn.

Xây dựng lại hình ảnh về người yêu cũ

Khi bạn và người đó còn ở bên nhau, người đó là nguồn hạnh phúc, sự an toàn và ổn định. Nhưng đó là quá khứ. Hiện tại họ đã phá nát trái tim bạn, họ trở thành một dạng tệ hại như heroin. Hãy tránh xa họ, bởi nơi đó không còn mang lại hạnh phúc và an toàn nữa, chỉ có những cảm xúc đau đớn mà thôi.

Chìa khóa để phục hồi từ nỗi đau là nhận thức rằng bản thân đang nghiện và cần phải cai nghiện ngay lập tức. Quyết tâm vượt qua nó như chiến đấu với bất cứ loại nghiện ngập nào. Hãy mạnh mẽ, xác định mục tiêu và kiên trì đạt được nó. Bạn sẽ chiến thắng.

 

Nguồn: Psychology Today

 

Facebook Comments

NGỒI THIỀN KÉM TỐT CHO SỰ TỰ CHỦ

0

Chúng ta tìm đến thiền để tĩnh tâm, trút bỏ muộn phiền, để quán chiếu lại bản thân, khiến tinh thần khỏe mạnh và tỉnh táo hơn. Nhưng việc ngồi thiền dường như không dễ dàng với hầu hết người mới bắt đầu. Khi cơ thể đang quen với nhịp độ biến đổi và âm thanh ồn ã của cuộc sống, việc lắng lại như bóp phanh một chiếc xe đang có động năng quá lớn. Năng lượng dồn nén khiến việc tập trung vào hơi thở cũng thật khó khăn. Nhiều người đã từ bỏ ngồi thiền chỉ vì vài lần khó tập trung mà nghĩ rằng mình không phù hợp.

Trong cuốn sách “Lời nói dối vĩ đại của não bộ”, tiến sĩ Kelly McGonigal đã đưa ra lời khuyên cho những người thiếu kiên nhẫn với chính mình trong khi ngồi thiền. Rằng việc ngồi thiền có tác dụng rất lớn trong việc rèn luyện não bộ và tăng ý chí. Hầu hết những người mới thiền khi không thể tập trung vào hơi thở, tâm trí bị quấy nhiễu bởi ngàn suy nghĩ, đã vội từ bỏ thiền. Tiến sĩ khuyên những học viên của bà không nên chỉ chú ý vào việc họ tập trung tốt như thế nào trong khi thiền, mà còn nên quan tâm tới sự ảnh hưởng của việc ngồi thiền đối với khả năng tập trung và đưa ra lựa chọn trong cuộc sống hàng ngày. Ngay cả bạn bị xao nhãng khi thiền, nhưng bạn sẽ tập trung và sáng suốt hơn sau mỗi lần tập luyện. Thiền quán giúp bạn rèn luyện một thói quen trong đời sống thực: giữ vững ý chí theo đuổi mục tiêu (ở đây là việc tập trung vào hơi thở). Thiền kém tập trung chỉ là một hiện tượng giúp bạn nhận ra tâm trí mình đang lơ đễnh và gọi nó trở về. Quen với điều đó, bạn sẽ nâng cao ý chí hơn trong đời sống thực, nhận thức được bản thân mỗi khi hành động theo vô thức và tự chỉnh đốn hành vi của mình.

“Thiền không phải là phương pháp giúp bạn trút bỏ toàn bộ ý nghĩ; thay vào đó, nó là phương pháp giúp bạn không bị lạc lối trong các ý nghĩ đến mức khiến bạn quên mất mục tiêu của mình. Đừng lo lắng nếu khả năng tập trung của bạn chưa hoàn hảo trong khi thiền. Chỉ cần bạn áp dụng phương pháp hít thở liên tục.

Nhờ cấu trúc của bộ não hiện đại mà bên trong mỗi chúng ta đều có rất nhiều phần đang đấu tranh để kiểm soát ý nghĩ, cảm giác và hành động. Mỗi thách thức ý chí là một cuộc chiến giữa những phần đó. Để phần tốt hơn chiến thắng, chúng ta cần nâng cao tính tự chủ và tự nhận thức. Khi đó, chúng ta sẽ tìm thấy ý chí và quyền năng để làm việc khó hơn.”

Hơn hết, ngồi thiền là một hoạt động giúp tâm trí bạn trở về thư thái. Đừng để những xao động nhỏ làm bạn bận tâm. Hãy để chúng đến rồi đi, quen với việc bình thản đón nhận và xả bỏ. Mỗi ngày mười phút ngồi thiền là thời điểm thư giãn, trút bỏ chất độc trong não và nạp năng lượng tươi mới để trở về với cuộc sống sảng khoái và tỉnh táo hơn.

Facebook Comments

ẢO TƯỞNG VỀ SỰ HIỂU BIẾT

Trong cuộc sống, tự tin là điều cần thiết. Song, có những người lại tự tin một cách thái quá, họ cho rằng mình là giỏi nhất, luôn ảo tưởng về tầm hiểu biết của bản thân và tỏ thái độ chê bai những người xung quanh. Việc quá tự cao bản thân như thế vô hình trung lại chính là rảo cản để bạn đạt được những thành công trong công việc, cuộc sống, cũng như thiết lập các mối quan hệ. Trong cuốn “Tư duy nhanh và chậm”, Daniel Kahneman cho chúng ta thấy cơ chế của sự tự lừa dối diễn ra một cách tự nhiên và dễ gây nhầm lẫn như thế nào.

“Nassim Taleb không chỉ là một thương nhân, một triết gia, một nhà thống kê học mà còn được coi là một nhà tâm lý học. Trong tác phẩm Thiên nga đen, Taleb đã đưa ra ý niệm về một liên tưởng ngụy biện (narrative fallacy) mô tả những câu chuyện chắp nối trong quá khứ ảnh hưởng tới góc nhìn về thế giới và kỳ vọng của chúng ta về tương lai. Thực chất các liên tưởng ngụy biện được sinh ra từ những nỗ lực không ngừng nhằm lý giải thế giới của chúng ta. Những câu chuyện giải thích mà con người cảm thấy hấp dẫn thường đơn giản; thường cụ thể chứ không trừu tượng, các phẩm chất như tài năng, sự ngu dốt, hay mục đích đóng vai trò quan trọng hơn là may mắn; và hướng sự chú ý vào một số biến cố nổi bật đã xảy ra hơn là vô số rủi ro đã không xảy ra. Bất cứ biến cố lạ lùng nào mới diễn ra đều được xem là một ví dụ điển hình và trở thành cốt lõi của một câu chuyện nhân quả. Taleb cho rằng chính loài người chúng ta tự lừa dối bản thân bằng cách tạo dựng cho quá khứ những giá trị mơ hồ và tin tưởng rằng đó là sự thật.

Các câu chuyện hấp dẫn vẽ ra cho độc giả thấy hành động và mục đích của nhân vật thật đơn giản và liên kết. Bạn luôn dễ dàng cho rằng hành vi của một người chính là cách thể hiện khuynh hướng chung và tính cách cá nhân của người đó – những yếu tố khiến bạn sẵn lòng gán cho các hiệu ứng. Hiệu ứng hào quang được đề cập ở phần trước có công lớn trong việc tạo ra liên kết, bởi vì nó khiến ta có chiều hướng nhận định phẩm cách của cả một con người chỉ qua một hành vi hoặc yếu tố đặc trưng cá biệt. Ví dụ nếu chúng ta có cảm tình với chàng cầu thủ bóng chày đẹp trai, khỏe khoắn kìa thì ta sẽ có xu hướng đánh giá cậu ta ném bóng cũng tốt hơn. Hào quang, tuy vậy cũng có mặt tiêu cực: Nếu ta thấy cầu thủ kia thật xấu xí ta có thể đánh giá khả năng chơi bóng của cậu ta thấp hơn so với thực tế. Hiệu ứng hào quang giúp cho các câu chuyện giải thích trở nên đơn giản, dễ hiểu và mạch lạc bằng cách nhấn mạnh quá mức vào tính nhất quán của các giá trị: Người tốt chỉ làm việc tốt và người xấu chỉ làm việc xấu. Dù được nghe câu khẳng định “Hitler cưng chó và yêu trẻ nhỏ” bao nhiêu lần thì ta vẫn cảm thấy sốc, bởi mọi vết tích của sự tử tế đều đã bị che phủ bởi hiệu ứng hào quang về một con người tàn độc đến vậy. Sự thiếu nhất quán làm giảm khả năng suy nghĩ thả lỏng và sự rành mạch trong cảm xúc của chúng ta.

Bản chất của ảo tưởng chính là chúng ta tin rằng mình hiểu quá khứ, vì thế tương lai cũng trở nên dễ nhận biết hơn. Nhưng trong thực tế, chúng ta hiểu về quá khứ ít hơn chúng ta tưởng rất nhiều.”

Nguyên nhân chính hình thành nên những ảo tưởng này do tính hời hợt trong đánh giá những gì xảy ra. Ta thường nhận thức sự việc không toàn diện như tổng thể nó có. Ở phần mù mờ không rõ ràng, ta mặc định cho chúng những tính chất của phần ta đã biết. Vô hình trung, việc ám thị toàn thể đã khắc ghi những định kiến sai lầm lên bộ não. Nó tạo nên hiệu ứng “biết tuốt” dây chuyền với tất cả những gì xảy ra quanh ta.

Ở ngưỡng đầu bước chân vào đời, việc va chạm với quá nhiều mới lạ và không đầy đủ thông tin khiến ta hoang mang và thường dễ xây dựng định kiến một chiều do thiếu hiểu biết toàn diện. Cách thức khắc phục ảo tưởng là tự xác định rõ với bản thân những gì đã biết và chưa biết, không qua loa đại khái trong việc đánh giá nhận xét bất kỳ việc gì. Ta không bỏ qua khả năng, cũng không đồng bộ hóa một điểm cho toàn diện. Luôn tò mò học hỏi về mọi thứ là cách thức tốt nhất để mở mang chình mình và nhìn nhận thế giới với đúng bản chất của nó.

Facebook Comments